BẢN TIN THƯ VIỆN

BẢN TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG TH DUY TÂN - Cập nhật ngày [5/9/2024]

Thời gian mở cửa thư viện: Thứ Hai đến Thứ Sáu từ 7h30 đến 16h30...

Thư viện đóng cửa vào ngày thứ 7, Chủ Nhật và các ngày lễ.

Sách mới về thư viện:

Thư viện vừa bổ sung thêm một số đầu sách mới, bao gồm các cuốn truyện thiếu nhi, truyện tranh song ngữ và tài liệu tham khảo phục vụ học tập. Học sinh và thầy cô có thể đến thư viện để mượn hoặc đọc tại chỗ.

TKB TIẾT ĐỌC - HỌC THƯ VIỆN

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN SỐ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Hỗ trợ trực tuyến

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Thông tin nhà trường

    TRƯỜNG TIỂU HỌC DUY TÂN - Cập nhật ngày [5/9/2024]

    1. Giới thiệu chung: Trường Tiểu học Duy Tân được thành lập vào năm 1952, tọa lạc tại TDP Duyên Linh - phường Nhị Chiểu - thành phố Hải Phòng.

    2. Cơ sở vật chất: Nhà trường hiện có 22 phòng học khang trang, đầy đủ trang thiết bị hiện đại, đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy của thầy cô và học sinh.

    3. Đội ngũ giáo viên: Trường Tiểu học Duy Tân tự hào với đội ngũ giáo viên nhiệt tình, giàu kinh nghiệm và có trình độ chuyên môn cao. Các thầy cô không chỉ là những người truyền đạt kiến thức mà còn là những người bạn đồng hành đáng tin cậy của các em học sinh trong hành trình học tập và trưởng thành.

    4. Thành tích nổi bật: Trường Tiểu học Duy Tân đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào trong các kỳ thi cấp quận/huyện, thành phố và quốc gia. Những giải thưởng từ các cuộc thi toán, tiếng Anh, Tin học trẻ và thể dục thể thao đã minh chứng cho chất lượng giảng dạy và học tập của nhà trường.

    Hội thi “Hiệu trưởng đổi mới, sáng tạo cấp Tiểu học tỉnh Hải Dương năm học 2023 - 2024”

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Truyện cổ Andersen

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: nguyễn Thị Thu
    Ngày gửi: 05h:51' 30-12-2024
    Dung lượng: 896.8 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin ebook
    Truyện cổ andersen
    Tổng hợp từ nhiều nguồn
    Tạo ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Bi kịch hồn nhiên trong truyện cổ
    Andersen
    Lê Thị Thanh Tâm
    Người ta gọi ông là “người kể chuyện cổ tích”. Còn ông tự nhận mình
    “giống như người dân miền núi đục vào vách đá những bậc thang” để “chậm
    chạp và khó nhọc tìm lấy một chỗ đứng của mình trong văn học”[1]. Ông là
    thiên tài kể chuyện Hans Christian Andersen (1805-1875).
    Andersen đã có một cuộc đời sáng tạo vĩ đại: ông là nhà tiểu thuyết, nhà viết
    kịch, nhà thơ, và đặc biệt là nhà viết truyện cổ tích. Sinh thời, ông làm bạn
    với V. Hugo, H. Balzac, C. Dicken, H. Heine… Sinh trong nghèo khó ở
    thành phố cổ Ôđenzê nước Đan Mạch, làm con của một người thợ giày bần
    hàn, tuổi thơ chìm đắm trong những câu chuyện cổ tích do người cha và các
    cụ già trong khu dưỡng lao kể lại, những năm tháng ngây thơ sống trong các
    trò chơi tưởng tượng, tâm lý và vóc dáng có nhiều nét kỳ quặc, bị khinh rẻ
    và sống trong niềm tủi nhục…, Andersen đã trở thành ông vua chuyện cổ mà
    tên tuổi bay khắp thế giới.
    Bo Gronbech trong tham luận “Tại sao chúng ta nghiên cứu Andersen?”
    (Hội thảo Andersen và Thế giới – Andersen and The World, 1993) đã nêu
    lên 9 nguyên nhân cần phải tìm hiểu Andersen như sau: 1-Cuộc đời nhà văn,
    2- Tâm lý kỳ lạ, 3-Thơ ca, 4-Sáng tạo cổ tích, 5-Nghệ thuật cảm thụ, 6-Ý
    niệm tôn giáo và triết lý nhân sinh trong truyện cổ, 7-Việc biên tập, 8-Ảnh
    hưởng của Andersen đến văn hóa Đan Mạch, 9-Dịch thuật truyện cổ
    Andersen và phê bình tác phẩm Andersen ở nước ngoài. Ở mục Sáng tạo cổ
    tích, Gronbech đặt ra câu hỏi về “bí ẩn kể chuyện” của Andersen khi trộn lẫn
    những nhân vật–con người và nhân vật-sự vật với nhau. Và ở mục Ý niệm
    tôn giáo và triết lý nhân sinh trong truyện cổ, Gronbech cũng kêu gọi chúng
    ta hãy đọc Andersen không chỉ dưới ánh sáng Thiên Chúa giáo, mà dưới chủ
    âm triết lý chung cuộc về đời sống con người mà Andersen thể hiện. Gợi ý
    này giúp chúng tôi nghĩ đến một luận điểm nhỏ: phải chăng, có một lớp
    nghĩa mang nội dung bi kịch trong truyện cổ Andersen thông qua sự trộn lẫn
    nhân vật-con người và nhân vật-sự vật, và bi kịch ấy, trong dáng dấp truyện
    cổ tích, sẽ mang màu sắc hồn nhiên?
    I. Bi kịch chọn lựa:

    Chúng ta bắt đầu với câu chuyện Nàng tiên cá.
    Nàng tiên cá khi có được tình yêu với con người (là chàng hoàng tử) thì bị
    rơi vào thế phải đánh đổi: đánh đổi tiếng hát, giọng nói, và cao hơn là đánh
    đổi số phận của chính mình, đánh đổi sự tồn tại để có được một linh hồn bất
    diệt. Nàng có hai lần phải chọn lựa. Lần thứ nhất, khi đến gặp mù phù thủy,
    nàng buộc phải chọn lựa giữa việc hy sinh tiếng hát, giọng nói để biến thành
    người và được gặp hoàng tử yêu dấu. Nàng đã chọn sự hy sinh. Lần thứ hai,
    khi buộc phải giết chết hoàng tử trước lúc mặt trời mọc để sống ba trăm năm
    đời cá thay vì sống trong tích tắc của kiếp người. Nàng đã chọn kiếp người.
    Cuộc đời nàng tiên cá đã phải chọn lựa những thứ như sau: được làm người,
    được yêu như người, và được chết như con người. Dấu hiệu duy nhất để
    nhận biết điều ấy là đôi chân trần đau nhói trong mỗi bước đi. Những chọn
    lựa của nàng tiên cá suy cho cùng đều là những quyết định bi kịch. Cái nàng
    đạt được và cái nàng hy sinh đều hệ trọng như nhau. Nàng phải chọn trong
    đau đớn giữa cái phù vân và cái vĩnh cửu, giữa thân phận bọt sóng vô tri và
    kiếp người đầy mất mát. Cái là phù vân lại mang hình bóng vĩnh cửu (bọt
    sóng), cái tưởng là vĩnh cửu lại quá đỗi phù vân (làm người).
    Truyện Cái bóng kể cho chúng ta một sự chọn lựa khác. Người đàn ông
    trong truyện (một nhà khoa học) có hai lần chọn lựa, nhưng đều kín đáo, đến
    nỗi nhà văn cũng không nỡ nói cho chúng ta biết nhân vật đã quyết định
    chọn lựa từ lúc nào. Chỉ biết rằng, có một lần, người đàn ông ấy thấy mình
    mất bóng. Quyết định chọn con đường cho phép chiếc bóng ra đi mà không
    biết, người đàn ông trở nên đơn độc khủng khiếp khi không còn bóng nữa.
    Cái bóng ấy sau những chuyến phiêu lưu li kỳ bỗng dưng quay lại với địa vị
    con người thật. Nó giàu có, sang trọng, và thậm chí còn muốn lấy vợ. Người
    đàn ông chọn lựa lần thứ hai, chấp nhận đổi thân phận mình làm bóng, và cái
    bóng làm chủ lấy nhà khoa học. Buổi tiệc cưới tưng bừng của chiếc bóng ở
    cuối truyện được đặt bên cạnh cái chết âm thầm của con người thật. Câu
    chuyện cổ tích tưởng chừng ngộ nghĩnh này chất chứa một sự đánh đổi bi
    thảm của con người trong xã hội hiện đại. Andersen đã sử dụng những chi
    tiết thần kỳ nhằm mang đến cho chúng ta một ẩn dụ mới về sự bất lực của
    con người trong việc chăm bón cho hào quang phù phiếm. Nhà khoa học viết
    về Chân Thiện Mỹ đã chết. Nhưng chiếc bóng của ông ta thì vẫn sống, lấy
    vợ, giàu có, và giả vờ thương xót con người thật đã mất kia. Bi kịch này có
    lẽ vẫn âm thầm xảy ra với bất kỳ ai trong chúng ta, khi nỗi sợ mất bóng là
    ám ảnh lớn nhất trong đời.
    Truyện Một bà mẹ lại dẫn chúng ta đến thế giới của tình mẫu tử. Người mẹ
    tội nghiệp ấy cũng phải có ba lần chọn lựa khi mất đứa con thân yêu. Lần thứ

    nhất, người mẹ khóc để đôi mắt trong veo của bà rơi xuống đáy hồ, khi ấy bà
    được hồ dẫn đường đến ngôi nhà của Thần Chết. Lần thứ hai, người mẹ phải
    trao mớ tóc đen của mình cho bà cụ đổi lấy mớ tóc bạc để được chỉ đường
    đến khu vườn kính của Thần Chết, nơi có những bông hoa tượng trưng cho
    kiếp người. Cái gì đã dắt người mẹ đi xa đến thế, đánh đổi nhiều đến thế, đó
    là tình mẫu tử, là việc tìm lại đứa con thân yêu. Nhưng trong khu vườn, với
    đôi mắt trong veo được trao trả lại, người mẹ đã nhìn thấy bao nhiêu thân
    phận sung sướng và bất hạnh trong những bông hoa. Và bà quyết định: để
    cho con được chết. Lựa chọn cuối cùng này của người mẹ là dấu chỉ cho
    chúng ta đọc được ý nghĩa bên trong của câu chuyện cổ tích. Người mẹ
    không muốn con mình thức dậy vì bà không thể biết được cuộc đời thực sự
    của đứa con sẽ là khổ đau hay hạnh phúc; bà không thể biết nếu con mình
    sống lại thì cái sống ấy liệu có làm người khác phải mất con như bà không,
    có phải trả giá không. Vì không biết nên bà chấp nhận cho Thần Chết mang
    con mình đi xa. Chúng ta, cũng như bà mẹ, không biết kết cuộc mà Andersen
    dành cho người mẹ đau khổ đó là đúng hay không đúng. Cái chết từ đầu câu
    chuyện vẫn chỉ là cái chết cho đến cuối câu chuyện, dù người mẹ đã phải mù
    lòa đi hay già cỗi đi vì đau thương. Chúng ta bị chọn lựa cho cái chết, còn ý
    nghĩa cái chết ấy vẫn là điều không thể biết.
    Có thể nói, những mong ước trong truyện cổ Andersen đều thiết tha và hệ
    trọng. Nhưng các nhân vật khi đạt được lại hiếm khi trọn vẹn niềm vui.
    Truyện của ông thường không kết thúc trong khúc khải hoàn hoặc sự viên
    mãn, rằng từ đó trở đi, những nhân vật ấy sẽ được hạnh phúc mãi mãi.
    Andersen đã làm ngược lại; cái đạt được không phải là phần thưởng tuyệt
    đối cho đức hạnh hoặc tài năng, hoặc sự khốn khó. Cái đạt được vẫn nằm
    trong chiếc bóng khổng lồ của định mệnh. Và nỗi buồn vẫn tràn ngập, cho
    dù mơ ước đã thành.
    II. Bi kịch trò chơi:
    Andersen có nhiều câu chuyện cổ mà nhân vật là những đồ vật, động vật.
    Cách sử dụng nhân vật như thế rất gần với loại truyện ngụ ngôn như truyện
    kể của Edôp hoặc ngụ ngôn La-phông-ten. Nhưng tính chất ngụ ngôn của
    Andersen lại có thêm màu sắc của tiểu thuyết, thể hiện ở chất đời thường tỏa
    khắp mọi chi tiết, kể cả những chi tiết kỳ lạ. Chúng ta đọc thấy trong truyện
    Andersen lời khuyên chí tình của các con vật, nghe lời kể của đồng silinh
    bạc, chiêm nghiệm đời anh bù nhìn tuyết, con quay và cái bóng, chiếc kim
    thô, gã cổ cồn, con bọ chét, con chấu chấu, con nhảy, rồi xúc động với anh
    lính chì, con chim và hoa cúc trắng… Nhân vật đồ vật và động vật trong
    truyện Andersen như một kiểu mặt nạ. Ở đó, nhà văn tha hồ cho nhân vật

    của mình bị hành hạ, bị bóc trần, bị thua cuộc… mà vẫn cứ là những chiếc
    mặt nạ, những trò chơi của tuổi thơ…
    Chúng ta sẽ đọc truyện cổ Andersen theo tính chất bi kịch của nó qua hai lớp
    nghĩa:
    + Lớp ngụ ngôn : xuất phát từ các nhân vật trò chơi. Đặc điểm này đáp ứng
    yêu cầu cho trẻ thơ vì trẻ vốn yêu thích chơi đùa và đóng giả. Andersen đã
    cố ý tạo ra kiểu truyện mang nghĩa kép: trò chơi và những giáo huấn tinh tế.
    Truyện có nhiều cách ngôn mang tín hiệu ngụ ngôn như câu nói lặp lại ba
    lần của chàng Ruydi: “Nếu nghĩ mình không ngã thì sẽ không bao giờ
    ngã”(Nữ thần Băng giá), hoặc câu “khi ở trên cao thì người ta có thể mỉm
    cười”(Một chuyện đau lòng, hay “có kiên tâm chờ đợi thì cuối cùng bao giờ
    vẫn được người ta đánh giá đúng với giá trị thực tế của mình” (Đồng silinh
    bạc)…
    + Lớp tiểu thuyết: đó là lời kể về những cái thường nhật, thường trực. Hình
    ảnh về một thế giới tầm thường, giả tạo, và liên tục trở nên phù phiếm đi
    song hành với những ước mơ cao khiết, những biến cố kỳ dị, những thử
    thách và chết chóc chỉ có trong thần thoại hay cổ tích khiến cho truyện cổ
    Andersen mang tính đa thanh. Hình vóc là truyện cổ mà dư vang lại thuộc về
    tiểu thuyết. Nhân vật tưởng là mang mặt nạ ngụ ngôn, nhưng tình huống và
    bi kịch của chúng lại trùng khớp với mọi biến cố tiểu thuyết hiện đại.
    Truyện Một cặp tình nhân kể về hai nhân vật: chú Quay và ả Bóng. Trong
    mối tình trò chơi ngô nghê đậm màu sắc tưởng tượng này, người đọc bắt gặp
    ba chi tiết như sau: một là lời thề, hay lời hứa, hai là sự đỏng đảnh của ả
    Bóng, ba là sự từ chối của chú Quay trước một ả Bóng trương phềnh hết
    thời. Mối tình bắt đầu bằng sự thề thốt và kết thúc trong bạc bẽo ấy ta hoàn
    toàn có thể tìm thấy ở bất kỳ nơi đâu trong xã hội con người. Cái gì làm cho
    cặp tình nhân ấy chán chường nhau? Khởi đầu là do…một cú đập bóng của
    lũ trẻ con. Cái lý do không đâu ấy ta cũng có thể tìm thấy ở bất kỳ nơi đâu
    trên thế giới này. Những đổ vỡ phi lý, những đổi thay do thời cuộc, câu
    chuyện nhân tình thế thái đã được Andersen lồng kín trong mấy trang giấy.
    Những đứa bé ngây thơ sẽ cười ngặt nghẽo khi nghe Andersen kể về mối
    tình của hai thứ đồ chơi vô tri kia. Còn người lớn thì ngậm ngùi hơn. Vì cái
    kết cục bi hài này không thể biết được sẽ đến với ta vào khi nào: “Thế là
    Quay được sống lại cuộc đời vinh quang. Còn Bóng thì bị quẳng ra ngoài
    phố. Quay chẳng bao giờ còn nhắc đến mối tình xưa nữa. Khi cu cậu trông
    thấy cô ả trương phềnh lên vì nước mưa, nom rúm ró và gớm chết, cụ cậu đã
    lờ đi, không nhận cô ả nữa”.

    Cũng là thế giới đồ chơi và trò chơi, truyện Chú lính chì dũng cảm bày ra
    một thế giới hỗn độn với một kết cục buồn: chú lính chì bị quẳng vào lửa và
    lửa bén cháy cả cô vũ nữ xinh đẹp bằng bìa của chú. Di hài chú lính được chị
    giúp việc kết lại thành một trái tim nhỏ. Cuộc đời chú lính chì, với niềm đam
    mê tình ái, can đảm chống chọi giữa dòng rác rưởi, và suýt chết trong bụng
    con cá măng… chứa đựng tấm lòng trắc ẩn sâu xa của Andersen về những
    con người bất toàn. Chú lính chì một chân và cô vũ nữ cũng chỉ đứng một
    chân giữa một đám đồ chơi nhao nhác, đầy tâm địa… là một nét vẽ thiên tài
    về thế giới khổng lồ của con người. Chú lính chì bị chảy ra trong lửa, nhưng
    chú vẫn tiếp tục hóa thành một món đồ chơi mới: một trái tim (món đồ chơi
    của chị giúp việc); như thể đời này sang đời khác, trong vóc hình một món
    đồ chơi, chú lại tiếp tục dũng cảm sống và chết đi, tiếp tục là câu chuyện
    trong thế giới đồ chơi. Và tiếp tục những bi kịch mới.
    Truyện Bù nhìn tuyết có hình bóng một ẩn dụ. Giống như Ruyđi bị biến
    thành đồ chơi của các âm thần và bị chết theo băng giá, bù nhìn tuyết khi bị
    tan ra còn trơ cái cán chổi. Thế mà hắn từng có một khởi đầu vinh quang:
    “Bù nhìn tuyết sinh ra giữa những tiếng reo mừng của lũ trẻ em, giữa tiếng
    nhạc ngựa kéo xe trượt tuyết và giữa tiếng roi quất của các anh xà ích trẻ
    tuổi”. Rồi khi mùa xuân đến, mặt trời lên rực rỡ, bù nhìn tuyết biến mất
    trong quên lãng. Trong suốt quãng đời “bù nhìn” của mình, bù nhìn tuyết đã
    khao khát biết bao một ngọn lửa sưởi ấm trong nhà, một vầng mặt trời đỏ,
    mà không biết những thứ ấy sẽ thiêu cháy chính mình. Bởi vì nó không hề ý
    thức được rằng nó chỉ là một loại đồ chơi phù phiếm, rằng sự phù phiếm và
    giới hạn của nó không thể dùng để phán xét và tìm kiếm vĩnh cửu.
    III. Và bi kịch hồn nhiên trong truyện cổ Andersen:
    Không gian cổ tích đã tạo ra một chân trời rộng lớn cho Andersen khi thiết
    kế các nhân vật và tình huống trong cảm hứng sâu kín về tình đời, tình
    người. Nhân vật của Andersen thường chơi và bị chơi. Nhưng các chú bé, cô
    bé chơi đùa kia chỉ là đòn bẩy, là cái bóng để soi sang phía bên kia của các
    con vật bị biến thành đồ chơi, hoặc những con vật là đồ chơi vì vốn chúng đã
    như thế. Milan Kundera khi bàn về tiểu thuyết Cervantes đã dùng cụm khái
    niệm “hiền minh của lưỡng lự”[2]. Chúng ta có thể tìm thấy tính chất hiền
    minh ấy trong câu chuyện cổ của Andersen. Các nhân vật buộc phải chọn và
    sống trong đời sống bình thường với những tổn thương tinh thần sâu sắc và
    phổ biến. “Khi Đông Kisốt bước ra khỏi nhà và không còn đủ sức nhận ra
    thế giới nữa”[3]. Các nhân vật của Andersen, dù là con người hay con vật,
    đồ vật, cũng đều mang một sự im lặng nhẫn nại trước mất mát và quên lãng;
    họ chơi và bị chơi trong một thế giới hỗn loạn, và không thể nhận biết chắc

    chắn một điều gì, ngoài sự ngây thơ của họ. Họ không thuộc chỉ thuộc về cổ
    tích, thế giới của trẻ thơ giản dị; họ còn thuộc về tiểu thuyết, thế giới của
    người lớn đa đoan. Tuy nhiên, ẩn ức bi thảm được khắc họa bằng những cái
    chết và nỗi oan không lấn át sự sáng tạo hồn nhiên và dồi dào của Andersen.
    Cảm giác lớn nhất mà người đọc tìm thấy ở Andersen vẫn là niềm yêu sống
    tuyệt vời, nơi các nhân vật đã có những khoảnh khắc sống đẹp đẽ hết mình
    cho mọi ước mơ, được sống hồn nhiên cho đến hết tấn bi kịch của mình.
    Là bi kịch, bởi vì nhân vật của Andersen đã phải chọn lựa quá nhiều trước
    khát vọng hoàn thiện và sự bất lực tất yếu. Là hồn nhiên, bởi vì mỗi mẫu
    chuyện của Andersen đều kể về một thế giới quá xa chúng ta, thế giới cổ tích
    mà những được mất đều chỉ là hồi quang của một cuộc chơi nào đó. Là bi
    kịch, bởi vì không có nhân vật nào của Andersen mà không có một nỗi mất
    mát riêng bị giấu đi trong quên lãng…Là hồn nhiên, bởi vì, nước mắt và nụ
    cười trong truyện cổ Andersen luôn đồng hành, luôn soi bóng trong những
    câu chuyện dù kết cục chọn lựa là sống hay chết, tốt hay xấu.
    Trong thế giới tưởng tượng ngộ nghĩnh và trắc ẩn ấy, có bao mảnh đời trôi
    nổi giữa rủi may, bao nhân cách bị biến dạng, bao tình yêu bị tan nát, bao cái
    chết oan uổng… Thế giới nhân sinh thật sự luôn có mặt trong mỗi trò chơi
    nho nhỏ của Andersen, trò chơi mà ông đã phải cặm cụi suốt đời, một cách
    “chậm chạp và khó nhọc” để sáng tạo ra nó.
    Và mỗi mẫu chuyện cổ tích trong sáng của Andersen vẫn ánh lên sâu kín bi
    kịch hồn nhiên của mọi kiếp người.
    [1] Trích “Người kể chuyện cổ tích”, lời nói đầu của Pautopxki trong tuyển
    tập “Truyện cổ Anđecxen”, NXB Văn hóa Thông tin, 2004.
    [2] Xem “Nghệ thuật tiểu thuyết”, Milan Kundera, Nguyên Ngọc dịch, NXB
    Đà Nẵng, 1998, tr.11.
    [3] Nghệ thuật tiểu thuyết, Sđd, tr. 11.

    Cây Thông
    Một cây thông non xinh tươi mọc trong rừng. Thông mọc chỗ có nắng và
    quang đãng. Khắp chung quanh có nhiều cây thông khác lớn hơn. Thông non
    ta cũng muốn lớn bằng những cây ấy.
    Thông non rất ghét các trẻ con trong làng vừa bi ba bi bô vừa đi qua đi lại để
    hái quả dâu, rồi lúc trở về, tay xách giỏ dâu, ngồi gần gốc thông mà khen :
    “Ồ ! Cây thông non xinh quá”.
    Nó không thích người ta gọi nó là “thông non”. Năm sau nó lớn thêm một
    đốt, mọc thêm được một cành, năm sau lại thêm một lớp cành nữa; các bạn
    hẳn cũng đã biết là như thế chỉ cần đếm các lớp cành là cũng đủ nhận ra tuổi
    một cây thông.
    Cây thông non thở dài:
    - Ôi ! Giá ta cũng to lớn bằng những cây khác nhỉ ! Lúc ấy ta sẽ vươn nổi
    các nhánh rất xa ra xung quanh và từ trên ngọn ta có thể ngắm nhìn khắp
    đồng quê. Chim chóc sẽ đến làm tổ trên các cành của ta và khi gió thổi ta
    cũng sẽ nghiêng mình một cách đường bệ như các cây khác.
    Bởi vậy thông non của chúng ta không thích bất cứ một thứ gì, từ nắng ấm
    cho đến chim chóc, thậm chí cái đám mây hồng sáng chiều bay qua trên
    ngọn thông.
    Đông đến, bốn bề toàn là tuyết trắng phau lấp lánh. Một con thỏ rừng chạy
    ngang qua, nhảy vọt qua ngọn thông non: thông ta lấy làm nhục lắm.
    Nhưng qua hai mùa đông nữa thông non của chúng ta lớn đến mức lũ thỏ
    đành phải chạy vòng quanh.
    Nó lớn lên, lớn mãi, trở nên cao và già. Trên đời này, còn gì đẹp cho bằng,
    thông non vẫn đinh ninh như thế.
    Hàng năm cứ đến mùa thu các bác tiều phu lại vào đốn ít cây to nhất.
    Cây thông non bây giờ đã khá to; nó suy nghĩ về số phận những cây to và
    đẹp đang đổ xuống đất rầm rầm. Người ta chặt cành và bóc vỏ đi, cây thành
    ra dài và thon, không nhận ra được nữa. Sau đó, người ta đặt cây lên xe
    ngựa, chở ra khỏi rừng.

    Cây đi đâu thế nhỉ ? Số phận cây rồi sẽ ra sao đây? Đến mùa xuân, khi cò và
    chim nhạn bay trở về, thông non trước kia của ta hỏi :
    - Các bạn có biết người ta mang những cây to đi đâu không? Các bạn có gặp
    các cậu ấy không ?
    Chim nhạn chẳng hề biết, nhưng một con cò có vẻ đứng đắn, gật gù đáp:
    - Có lẽ tôi biết đấy! Tôi đã gặp rất nhiều tàu bè mới tinh từ Ai Cập về. Cột
    buồm những tàu ấy rất lộng lẫy, và tôi ngửi thấy thơm thơm, hình như gỗ
    thông thì phải.
    - Chao ôi! Ước gì tôi đủ sức lớn để cũng được bồng bềnh trên mặt biển. Biển
    ấy như thế nào nhỉ?
    - Nói ra thì dài dòng lắm. Cò đáp rồi bay đi.
    Những tia mặt trời bảo thông :
    - Cậu hãy vui sướng với cái tuổi trẻ của cậu. Hãy tận hưởng chất nhựa tươi
    tắn và tuổi thanh xuân của cậu!
    Gió hôn thông và sương trang điểm cho thông những hạt lóng lánh như
    ngọc, nhưng thông chẳng xúc động mảy may trước sự chăm sóc ấy.
    Gần đến lễ Noel, người ta đến chặt nhiều cây con, bé và non hơn cây thông
    của chúng ta, lúc này chỉ muốn rời bỏ cánh rừng. Các cây non ấy cành lá lưa
    thưa nên người ta để nguyên lên xe ngựa chở ra khỏi rừng.
    Thông ta tự hỏi:
    - Chúng đi đâu thế nhỉ ? Chúng chẳng lớn gì hơn ta, có một cây còn bé hơn
    ta nữa kia. Sao người ta lại giữ cả cành và đem chúng đi đâu thế ?
    Đàn chim sẻ chiêm chiếp:
    - Chúng tớ biết ! Chúng tớ biết ! Chúng tớ đã nhìn qua cửa kính các nhà
    trong thành phố. Chúng tớ biết người ta đem cây non đi đâu. Người ta mang
    chúng đến những nơi hội hè, tưng bừng không thể tưởng tượng được. Nhìn
    qua cửa kính, chúng tớ thấy người ta trồng chúng vào giữa một gian phòng
    ấm áp, trang điểm cho chúng bằng những vật đẹp nhất, nào táo, nào bánh
    ngọt, các thứ đồ chơi và hàng mấy trăm ngọn nến.

    - Sao nữa ? – Thông vừa hỏi vừa rung lên, rung cả cành lẫn lá. Sao nữa? Sau
    rồi thế nào?
    - À, chúng tớ chỉ biết có đến thế thôi! Thật là huy hoàng!
    Thông lẩm bẩm:
    - Số mình không được hưởng cái tương lai sáng lạn ấy hay sao? Còn thích
    hơn là đi biển nhiều. Ôi ! Giá bây giờ lại là lễ Noel nhỉ? Nay mình đã lớn
    chẳng kém gì những cây được người ta đem đi năm ngoái. Ôi! Giá mình
    được lên xe, được trồng trong căn phòng ấm áp, giữa những vật huy hoàng
    ấy! Nhưng sau đó sẽ ra sao? Hẳn là sẽ có gì nữa, nếu không thì người ta
    trang điểm cho cây như thế để làm gì? Phải, nhất định sẽ có cái gì tuyệt hơn.
    Không gì khổ bằng chờ với đợi! Nóng ruột quá đi mất.
    Gió hiu hiu và ánh nắng bảo thông: “Hãy vui thú với chúng ta. Hãy bằng
    lòng với tuổi thanh xuân mơn mởn, với bầu trời khoáng đãng!”
    Thông chẳng vui lòng chút nào. Nó lớn lên, lớn lên mãi, mùa hè cho chí mùa
    đông, cành lá lúc nào cũng đẹp một màu xanh thẫm, ai trông cũng khen:
    “Cây thông đẹp quá!” và trước lễ Noel mấy ngày người ta chặt nó trước tiên.
    Lưỡi rìu chặt đứt cây đến tận lõi, cây thốt ra một tiếng thở dài rồi đổ xuống.
    Nó đau đớn đến nỗi không còn mơ tưởng đến một chút hạnh phúc nào nữa.
    Nó nhớ tiếc chỗ nó mọc, nơi nó đã lớn lên. Nó biết rằng từ nay trở đi chẳng
    bao giờ nó còn được gặp lại các bạn cũ thân mến của nó, các bụi cây, bụi hoa
    mọc xung quanh nó, và biết đâu đấy? Có thể là ngay đến một con chím nó
    cũng không được gặp lại. Đúng, nó ra đi mà lòng không vui.
    Cây thông của chúng ta bừng tỉnh trong sân nhà, nơi nguời ta, lôi nó ra khỏi
    xe cùng với các bạn khác của nó.
    Nó nghe thấy một người lên tiếng: “Cây này đẹp đấy! Tớ đang cần một cây
    như thế này!”
    Rồi có hai người hầu mặc đồng phục đến khiêng nó vào một gian phòng
    rộng rãi đẹp đẽ. Khắp xung quanh có những bức chân dung trên tường và
    trên chiếc lò sưởi lớn bằng sứ có hai lọ độc bình Trung Quốc chạm trổ đầy
    những rồng và hoa thếp vàng.
    Lại còn có những cái ghế bành tuyệt đẹp, những ghế trường kỷ bọc lụa,
    những chiếc bàn lớn chứa đầy sách và đồ chơi quý giá, đáng hàng mấy trăm
    mấy nghìn đồng tiền vàng.

    Cấy thông được đặt vào một cái thùng đầy cát, nhưng người ta không thể
    nào biết rằng đấy là một cái thùng gỗ vì xung quanh có rèm xanh phủ kín.
    Thông ta không nén nổi cảm động. Rồi sao nữa đây? Các cô gái và bạn đầy
    tớ bắt tay vào trang điểm cho thông. Họ treo những cái bao dài nhỏ bằng
    giấy màu xanh đựng đầy kẹo lên cành thông.
    Những quả hạt dẻ và táo vàng trĩu xuống như mọc từ cành thông ra. Rồi sau
    họ cắm những cây nến trắng xanh đỏ, đặt những con búp bê nom như người
    thật lên các cành; tất cả những thứ đó thông ta chưa được nhìn thấy bao giờ.
    Chót vót trên ngọn thông họ cắm một ngôi sao lớn bằng giấy tráng kim tuyệt
    đẹp. Xung quanh thông mọi người đều reo lên:
    - Đến tối tất cả sẽ sáng rực lên phải biết!
    Thông ta tự nhủ:
    - Ồ! Sao cho chóng đến tối nhỉ? Đèn nến thắp lên thì phải biết! Rồi còn gì
    nữa nhỉ? Giá các cây trong rừng đến được đây mà ngắm ta! Có lẽ lũ chim
    cũng sẽ đến ngắm ta qua cửa kính đấy. Liệu đông qua, hạ tới, ta có được
    trồng ở đây mãi với tất cả trang sức này không?
    Thế là nó đã đoán ra được việc sẽ xảy ra sau này, nhưng vì quá sốt ruột, nó
    cảm thấy các lá đều nhức nhối, đối với một cây thông nhức lá cũng khó chịu
    như chúng ta nhức đầu.
    Sau cùng, người ta thắp nến lên. Sáng quá, huy hoàng quá! Sung sướng,
    thông ta rùng mình đến tận các cành nhỏ, đến nỗi một ngọn nến bắt lửa vào
    một cành cháy khét lèn lẹt.
    - Trời ! – các cô gái kêu lên và lao vào dập lửa.
    Thông ta không dám rùng mình nữa, chỉ sợ hỏng mất đồ trang sức. Nó long
    lanh sáng rực lên.
    Cửa ra vào bỗng mở toang ra và một lũ trẻ con ùa vào dường như muốn xô
    đổ cây thông. Người lớn điềm tĩnh theo sau. Lũ trẻ con dừng lại, lặng đi
    ngắm nghía cây thông, nhưng sau một lát chúng lại vui cười ầm ĩ và bắt đầu
    nhảy vòng tròn xung quanh gốc cây. Những đồ chơi dần dần bị lấy tuốt cả.
    Thông ta tự hỏi : “Chúng làm gì thế này? Sắp có chuyện gì chả biết được?”
    Nến đã tàn và khi cháy gần hết người ta bèn tắt đi. Lúc ấy trẻ con được phép
    phá cây Noel, chúng ùa vào làm các cành thông gãy răng rắc. Nếu không

    được chôn chặt ắt là thông ta đã đổ nhào.
    Sau đó lũ trẻ con nhảy múa với những đồ chơi xinh đẹp của chúng, chẳng
    đoái hoài gì đến thông nữa. Chỉ có mỗi bà vú già đến nhìn ngó các cành,
    nhưng chỉ để tìm xem có cái kẹo hoặc quả táo nào còn sót lại chăng.
    - Kể cho chúng cháu nghe một chuyện! Kể cho chúng cháu nghe một
    chuyện! - Bọn trẻ con vừa reo vừa kéo một người thấp béo đến ngồi dưới
    gốc thông. Người ấy nói:
    - Thế là chúng mình ngồi giữa cành lá xanh tươi và chắc thông cũng thích.
    Nhưng chỉ kể một chuyện thôi nhé! Các cháu có thích nghe chuyện Ivet Aval
    hay chuyện Klumpê Đumpê ngã thang gác nhưng vẫn trèo được lên ngôi vua
    và được lấy công chúa không?
    Đứa thì kêu:
    - Ivet Avet.
    Đứa thì kêu :
    - Klumpê Đumpê.
    Chúng làm ồn lên. Riêng cây thông vẫn đứng im và tự hỏi:
    - Họ không đếm xỉa gì đến mình nữa à? Không cần đến mình nữa chắc?
    Ông già kể chuyện Klumpê Đumpê, bọn trẻ con vừa vỗ tay vừa la: “Nữa !
    Nữa !” Chúng còn muốn nghe cả chuyện Ivet Avet, nhưng chỉ được nghe có
    mỗi một chuyện Klumpê Đumpê. Thông ta trầm lặng suy nghĩ, chim chóc
    trong rừng chưa bao giờ kể cho nó nghe một chuyện nào giống như chuyện
    Klumpê Đumpê bị ngã thang gác, nhưng vẫn lấy được công chúa, Thông
    nghĩ thầm:
    - Ừ phải! Ở đời này cũng có thế thật. Chuyện ông cụ kể chắc là không ngoa,
    có vẻ thật lắm. Biết đâu đấy? Có thể mình cũng sẽ rơi xuống cầu thang, để
    rồi sẽ lấy được một nàng công chúa.
    Nó khấp khởi mừng thầm và tưởng tượng đến ngày hôm sau trên người nó sẽ
    lại mắc đầy nến, đồ chơi, giấy tráng kim và hoa quả.
    Nó tự nhủ:

    - Đến mai mình sẽ không run nữa. Mình sẽ tràn trề hạnh phúc. Đến mai mình
    sẽ lại được nghe chuyện Klumpê Đumpê và có lẽ cả chuyện Ivet Avet nữa.
    Đêm hôm ấy, nó lặng lẽ mơ màng.
    Sáng ra, bọn hầu gái bước vào, thông ta hí hửng:
    - A! Lại bắt đầu mở hội đây.
    Nhưng không! Người ta khiêng nó ra khỏi phòng để đưa lên một cái kho trên
    gác, quẳng vào một xó tối như bưng.
    Thông nghĩ thầm:
    - Thế này là thế nào? Đến chốn này thân mình sẽ ra sao nhỉ? Lần này mình
    sẽ được nghe kể chuyện gì nhỉ?
    Rồi nó dựa vào vách mà mơ màng.
    Ngày tháng trôi qua, chẳng có ma nào trèo lên nhà kho và nếu có người lên
    đến nơi cũng chỉ là để đem vứt vào đấy những chiếc hòm lớn. Thông ta đành
    phải tin là mình đã bị quên hoàn toàn.
    Nó tự nhủ:
    - Ngoài kia, đông đã đến nơi rồi. Đất đã cứng ra và phủ đầy tuyết. Giờ thì
    người ta không đem trồng mình được nữa rồi. Tất nhiên là mình phải ở đây
    đến tận mùa xuân. Tất cả đều tuyệt mỹ và loài người cũng tốt thôi. Giá cái
    kho gớm ghiếc này đỡ tối một chút thì hay quá! Chẳng có lấy một chú thỏ
    nào! Trong rừng khi tuyết rơi và đàn thỏ chạy ngang qua thật là vui… thế mà
    hồi đó mình lại đâm cáu khi chúng nhảy qua ngọn mình. Chốn này quả là
    hoang vu đáng sợ.
    - Chít ! Chít - Một con chuột nhắt vừa kêu vừa nhảy nhót đến gần thông, rồi
    một con nữa theo sau, cả hai đều đánh hơi rồi trèo lên cành thông. Chúng
    xuýt xoa:
    - Rét đâu mà khiếp thế. Nếu không rét thì ở đây cũng sướng đấy chứ, phải
    chăng bác thông già?
    Thông đáp:

    - Ta đâu đến nỗi già, còn có khối kẻ già hơn ta.
    - Thế bác ở đâu đến đây? Bác biết gì nào? Hãy tả những danh lam thắng
    cảnh trên trái đất cho chúng tôi nghe. Bác đã đi đến những nơi đó chưa? Bác
    đã được đến cái chạn đựng đầy phó mát trên các ngăn, có đùi lợn sấy lủng
    lẳng treo trên nóc, nơi có thể khiêu vũ trên những cây nến làm bằng mỡ, nơi
    mà khi vào thì gầy, khi ra thì béo nung núc không?
    - Không, ta không biết nơi ấy. Nhưng ta biết cánh rừng có mặt trời lấp lánh
    và chim muông ca hát.
    Thông kể cho chuột nhắt nghe cuộc đời niên thiếu của mình. Chưa bao giờ
    chúng từng được nghe một chuyện như vậy, chúng dỏng cả tai lên, miệng
    nói:
    - Bác biết đến là nhiều chuyện. Sao bác sướng thế?
    - Ta mà sướng ư? Nói rồi thông ngẫm nghĩ về câu chuyện mình vừa kể. Phải,
    suy cho cùng, hồi ấy quả có sướng thật.
    Rồi thông kể đến chuyện đêm Noel, thân nó đầy những bánh ngọt và nến.
    Chuột nhắt trầm trồ:
    - Trời, bác thông già, sao bác sướng thế?
    Thông nói:
    - Ta đã già đâu kia chứ! Người ta mới đem ta ở rừng về từ mùa đông thôi
    mà. Ta vừa mới lớn lên mà họ đã tống ta vào một cái thùng. Rõ thật là khó
    chịu.
    Chuột nói:
    - Bác kể chuyện hay quá đi mất!
    Đêm sau, hai con chuột nhắt rủ thêm bốn con nữa đến để nghe thông kể
    chuyện. Thông nói:
    - Phải, hồi ấy quả có sướng thật, nhưng rồi lại cũng sẽ có những ngày như
    vậy. Klumpê Đumpê ngã thang gác mà còn lấy được một nàng công chúa.
    Rất có thể ta cũng sẽ vớ được một nàng công chúa.

    Nói rồi thông tưởng nhớ đến một cây phong xinh xắn trong rừng mà nó
    tưởng tượng là một nàng công chúa thật.
    Lũ chuột nhắt hỏi:
    - Klumpê Đumpê là gì thế?
    Thông ta kể lại câu chuyện không sót một chữ. Lũ chuột nhắt thích quá,
    tưởng như muốn nhảy lên đến ngọn thông.
    Đêm sau, chuột nhắt kéo đến đông hơn và đến chủ nhật lại có thêm cả hai gã
    chuột chù, nhưng hai gã tuyên bố rằng câu chuyện chả có gì lý thú, làm cho
    lũ chuột nhắt buồn xỉu. Vì thế câu chuyện đối với chúng, từ đó trở đi, cũng
    kém phần lý thú.
    Chuột chù hỏi:
    - Bác chỉ biết có mỗi chuyện ấy thôi à?
    - Ừ, chỉ có thế thôi – thông trả lời – đó là chính câu chuyện ta được nghe kể
    trong buổi tối sung sướng nhất của đời ta, nhưng lúc đó, ta không biết là
    sung sướng đến mức nào.
    - Chuyện của bác thật chán ngấy! Thế bác không biết ở đâu có mỡ miếng và
    nến làm bằng mỡ à? Bác không biết chuyện nào nói về cái chạn đựng thức
    ăn à?
    - Không ! Thông nói.
    - Thế thì xin chào bác ! Nói rồi chuột chù kéo nhau về.
    Lũ chuột nhắt cũng rút lui nốt.
    Thông ta lẩm bẩm:
    - Dẫu sao nhìn lũ chuột nhắt ngồi quây tròn quanh mình nghe kể chuyện
    cũng thấy thú vị. Nhưng cảnh đó cũng chẳng còn. Chỉ khi nào người ta lôi
    mình ra khỏi nơi này thì hạnh phúc mới trở lại.
    Bao giờ đến lúc ấy nhỉ?
    Một buổi sáng đẹp trời, người ta đến dọn dẹp kho thóc, khuân hòm đi và kéo

    cây thông ra khỏi xó nhà. Nó bị quăng xuống đất hơi mạnh, nhưng liền đó có
    một người vác nó đem qua một cầu thang sáng sủa.
    - Đời lại vun vút lên rồi ! Thông nghĩ thầm khi được mang ra sân và cảm
    thấy có gió mát và ánh nắng đầu xuân.
    Thông mải nhìn các vật quanh mình đến nỗi quên cả bản thân mình. Liền với
    cái sân có mảnh vườn đầy hoa nở. Hoa hồng tươi thơm ngát rủ trên bờ rào,
    bồ đề đang ra hoa và chim nhạn vừa bay vừa hót : kia – rơ – vi – rơ – vít.
    - Giờ đây ta lại sắp được sống! - Thông thì thầm và vươn cành ra. Than ôi !
    Cành đã khô vàng. Người ta quẳng thông vào một xó giữa đám cây tầm ma
    và cây gai. Ngôi sao bằng giấy vẫn còn đính trên ngọn và lấp lánh ánh nắng.
    Trong sân có vài đứa trẻ con hôm lễ Noel đã nhảy múa quanh cây thông và
    thấy thông hôm ấy rất đẹp. Đứa bé nhất chạy lại cầm lấy ngôi sao vàng óng,
    reo lên:
    - Ồ, xem này ! Ngôi sao hãy còn đính trên cây thông Noel già xấu xí này!
    Nói rồi, nó dận giày lên cành thông gãy răng rắc.
    Thông ta nhìn những đóa hoa đẹp và khu vườn xanh tươi mát mẻ rồi lại nhìn
    cái thân mình. Nó muốn quay trở lại xó tối trong kho thóc. Nó nghĩ đến thời
    thanh xuân của nó trong rừng, nghĩ đến cái đêm Noel vui sướng và nghĩ đến
    những con chuột nhắt thích nghe kể chuyện Klumpê Đumpê.
    - Thế là hết ! Ai bảo lúc sướng lại chả biết đường mà sướng?
    Một anh đầy tớ đến chặt cây ra từng mảnh, được một bó củi to đem đun bếp.
    Người ta nghe thấy những tiếng thở dài và những tiếng kêu thất thanh. Bọn
    trẻ con chạy lại đứng trước ngọn lửa mà reo: “Phì ! phì !” nhưng những tiếng
    phì phì của cây thông là những tiếng thở dài thực sự. Nó nghĩ đến những
    ngày hè trong rừng, những đêm đông ngoài bầu trời khoáng đãng, những sao
    lấp lánh trên trời. Nó nghĩ đến đêm Noel và đến Klumpê Đumpê, câu chuyện
    độc nhất đã học được và kể lại được.
    Thế rồi, chẳng còn sót lại một tí gì của cây thông non nữa.
    Lũ trẻ con lại chạy ra sân, đứa bé nhất còn đeo trên ngực ngôi sao vàng mà
    thông đã được đeo trong cái tối sung sướng nhất của đời nó.

    Cái tối hôm ấy không còn nữa và câu chuyện của chúng ta cũng hết như tất
    cả các câu chuyện trên đời này.

    Em bé bán diêm
    Rét dữ dội. Tuyết rơi. Trời đã tối hẳn. Đêm nay là đêm giao thừa.
    Giữa trời đông giá rét, một em gái nhỏ đầu trần...
     
    Gửi ý kiến