Hội thi “Hiệu trưởng đổi mới, sáng tạo cấp Tiểu học tỉnh Hải Dương năm học 2023 - 2024”
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tin học

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Thái Thu Thủy
Ngày gửi: 08h:21' 29-12-2024
Dung lượng: 41.2 KB
Số lượt tải: 0
TRƯỜNG TH DUY TÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Duy Tân, ngày 07 tháng 8 năm 2024
LÍ THUYẾT
CHUYÊN ĐỀ TẬP HUẤN SÁCH GIÁO KHOA TIN HỌC 5
(BỘ SÁCH CÁNH DIỀU)
I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ
Năm học 2024 - 2025 là năm học cuối thực hiện chương trình GDPT 2018 đối
với lớp 5 là năm học đầu tiên thực hiện chương trình này. Sau thời gian tham gia tập
huấn nội dung giảng dạy thay sách tin học lớp 5 của Sở GD&ĐT, để nắm bắt được
những nội dung cơ bản về dạy học môn Tin học lớp 5 - Chương trình sách giáo
khoa mới là việc làm cần thiết đối với giáo viên Tiểu học.
Thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học 2024 - 2025; Nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học lớp 5, tạo điều kiện cho giáo viên nắm bắt kịp thời chương trình mới, nắm
bắt được những nội dung cơ bản về dạy học môn Tin học lớp 5, cũng như phương
pháp, hình thức tổ chức dạy học.
Từ những lí do trên tôi đã xây dựng và thực hiện chuyên đề: Dạy học môn Tin
học lớp 5 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 bộ sách Cánh Diều.
II. MỤC TIÊU CHUYÊN ĐỀ
Nắm vững Chương trình môn Tin học lớp 5 bao gồm: mục tiêu, yêu cầu cần đạt,
kế hoạch dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, đánh giá kết quả học tập
của học sinh trong dạy học môn Tin học lớp 5.
Đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học (trong đó có đổi mới việc soạn bài dạy
học) và đổi mới đánh giá kết quả học tập.
Thống nhất quy trình và kĩ thuật soạn bài dạy học và hình thức tổ chức dạy học
đáp ứng yêu cầu dạy học hình thành và phát triển năng lực học tập môn Tin học cho
học sinh lớp 5.
III. NỘI DUNG
1. Đặc điểm môn học
Nội dung môn Tin học phát triển ba mạch kiến thức hoà quyện: Học vấn số hoá
phổ thông (DL), Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), Khoa học máy tính
(CS) và được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (tiểu học và
THCS) và giai đoạn định hướng nghề nghiệp (THPT).
Chương trình môn Tin học lớp 5 thuộc giai đoạn giáo dục cơ bản. Ở giai đoạn
này, môn Tin học giúp học sinh (HS) hình thành và phát triển khả năng sử dụng
công cụ kĩ thuật số, làm quen và sử dụng Internet; bước đầu hình thành và phát
triển tư duy giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của máy tính và hệ thống máy tính; hiểu
và tuân theo các nguyên tắc cơ bản trong trao đổi và chia sẻ thông tin.
Ở cấp tiểu học, trong đó có lớp 5, chủ yếu HS học sử dụng các phần mềm đơn
giản hỗ trợ học tập và sử dụng thiết bị tin học tuân theo các nguyên tắc giữ gìn sức
khoẻ, đồng thời bước đầu được hình thành tư duy giải quyết vấn đề có sự hỗ trợ
của máy tính. Ở cấp trung học cơ sở, HS học cách sử dụng, khai thác các phần
mềm thông dụng để làm ra sản phẩm số phục vụ học tập và đời sống; thực hành
phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của công cụ và các
hệ thống tự động hoá của công nghệ kĩ thuật số; học cách tổ chức lưu trữ, quản lí,
tra cứu và tìm kiếm dữ liệu số, đánh giá và lựa chọn thông tin.
2. Đổi mới của sách tin học 5
2.1. Cách tiếp cận
Bộ sách Tin học Cánh Diều được thiết kế có tính khoa học và sư phạm, đảm bảo sự
nhất quán xuyên suốt từ lớp 3 đến lớp 12 về mô hình, cách tiếp cận, cấu trúc trình
bày. Ngoài tính nhất quán với quan điểm của toàn bộ bộ sách, sách ở mỗi cấp học
được biên soạn với những đặc điểm riêng để phù hợp với tâm sinh lí, sự phát triển
năng lực và cách học của HS ở cấp học đó. Đây là nét đặc trưng nổi bật thể hiện đặc
sắc riêng của bộ sách Tin học Cánh Diều.
Trên cơ sở thiết kế tổng thể của toàn bộ bộ sách Tin học Cánh Diều, SGK Tin học 5
đã được biên soạn theo bốn cách tiếp cận chính. Sau đây trình bày rõ hơn về bốn cách
tiếp cận quan trọng đó.
a. Tiếp cận phát triển phẩm chất, năng lực
Khác với SGK hiện hành được biên soạn theo tiếp cận nội dung, SGK Cánh Diều
được biên soạn theo tiếp cận phát triển năng lực. Về thực chất, SGK hiện hành có
mục tiêu trả lời cho câu hỏi “Học xong HS biết được những gì”. Phù hợp với xu
hướng phát triển của giáo dục các nước tiên tiến, theo cách tiếp cận mới, SGK Tin
học Cánh Diều nhằm mục đích giúp HS vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề
trong thực tiễn, phục vụ cuộc sống, trả lời cho câu hỏi “Học xong HS làm được
những gì”. Mục tiêu chính của SGK Tin học Cánh Diều là hình thành và phát triển
năng lực tin học, góp phần hình thành các phẩm chất cốt lõi và năng lực chung theo
yêu cầu của CT GDPT TT 2018.
Hình thành và phát triển phẩm chất chủ yếu
Tất cả các chủ đề môn Tin học 5 đều có thể giúp GV có cơ hội hình thành và phát
triển một cách hiệu quả cho HS những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm
chỉ, trung thực và trách nhiệm. Các chủ đề “Đạo đức, pháp luật và văn hoá trong môi
trường số”, “Ứng dụng tin học” tạo ra nhiều tình huống bộc lộ được phẩm chất qua
các ứng xử, đặc biệt trong môi trường số. GV cần căn cứ vào các biểu hiện của những
phẩm chất được mô tả trong CT GDPT TT để hình thành và phát triển phẩm chất cho
HS trong suốt cả quá trình dạy Tin học 5.
Hình thành và phát triển năng lực tin học ở lớp 5
Những biểu hiện cụ thể của HS lớp 5 ở các thành phần năng lực Tin học là:
NLa (Sử dụng và quản lí các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông) biểu
hiện qua việc: Nêu được ví dụ máy tính giúp giải trí, học tập, tìm kiếm, trao đổi thông
tin, hợp tác với bạn bè và tạo ra sản phẩm số theo ý tưởng bản thân; Tạo được các thư
mục với cấu trúc cây hợp lí, sử dụng được công cụ tìm kiếm trên máy tính để tìm các
thư mục và các tệp; Tìm được trên website cho trước những thông tin phù hợp và có
ích cho nhiệm vụ đặt ra; Thực hiện thành thạo các thao tác với khối
văn bản, định dạng được kí tự để trình bày văn bản đẹp hơn, đưa được hình ảnh vào
trong văn bản một cách thành thạo; Tạo được sản phẩm số đơn giản nhờ sử dụng
phần mềm đồ hoạ (ví dụ thiệp chúc mừng); Tạo được sản phẩm thủ công theo video
hướng dẫn,ví dụ: gấp giấy, tạo đồ dùng tiện lợi cho gia đình,...
NLb (Năng lực ứng xử phù hợp trong môi trường số) biểu hiện qua việc: Giải thích
được một số khái niệm liên quan đến bản quyền nội dung thông tin; Nhận biết và giải
thích sơ lược được một số vấn đề đạo đức và tính hợp lệ của việc truy cập nội dung,
việc bảo mật thông tin; Thể hiện được sự tôn trọng tính riêng tư và bản quyền nội
dung thông tin; Thể hiện được sự không đồng tình với hiện tượng sai trái, gian dối
trong học tập và đời sống như xem thư riêng hay sao chép tệp của bạn khi chưa được
sự đồng ý,…
NLc (Giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông) biểu
hiện qua việc: Giải thích được sự cần thiết, tầm quan trọng của việc thu thập và tìm
kiếm thông tin trong giải quyết vấn đề; Tìm kiếm và chọn được thông tin phù hợp với
vấn đề cần giải quyết; Nêu được ví dụ cụ thể mô tả các cấu trúc tuần tự, lặp, rẽ nhánh
và sử dụng được các cấu trúc điều khiển này trong một số chương trình đơn giản; Sử
dụng được biến nhớ và biểu thức trong một số chương trình đơn giản; Chạy thử được
chương trình.
NLd (Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học) biểu hiện
qua việc: Sử dụng được phần mềm soạn thảo văn bản để tạo văn bản theo nhu cầu;
Sử dụng được trình quản lí để tạo cây thư mục lưu trữ theo nhu cầu; Tìm kiếm được
thông tin hữu ích cho nhiệm vụ đặt ra.
NLe (Hợp tác trong môi trường số) biểu hiện qua việc qua việc: Hợp tác với bạn bè
và tạo ra sản phẩm số theo ý tưởng bản thân; Hợp tác với người khác để giải quyết
vấn đề cụ thể; Hợp tác được theo nhóm để viết kịch bản và chương trình thể hiện kịch
bản.
Theo cách tiếp cận phát triển năng lực tin học, SGK Tin học 5, bộ sách Cánh Diều
được biên soạn theo nguyên tắc:
Tất cả kiến thức đều được liên hệ với ví dụ, ứng dụng trong thực tế. Mỗi bài học đều
yêu cầu HS giải quyết một vài vấn đề vừa sức với các em trong bối cảnh thực tiễn
nhất định. Với những yêu cầu đó, HS vận dụng hiệu quả kiến thức đã học và được
khuyến khích trao đổi, thảo luận để thực hiện các nhiệm vụ học tập.
HS đạt được mục tiêu ở mỗi bài học sẽ đạt được YCCĐ của chủ đề tương ứng. Sau
khi học hết 6 chủ đề trong SGK sẽ đạt được đầy đủ các YCCĐ của CT môn Tin học
lớp 5.
b. Tiếp cận hoạt động
Ý nghĩa của cách tiếp cận này là: bằng hoạt động và thông qua hoạt động tích cực,
HS chiếm lĩnh được kiến thức và chuyển hoá thành hiểu biết của mình, vận dụng
được kiến thức vào thực tiễn. SGK Tin học 5 Cánh Diều thiết kế các hoạt động cho
mỗi bài học.
Với HS, nhiệm vụ phải thực hiện trong mỗi hoạt động làm HS phải động não, tư duy,
phải triệu hồi các kiến thức và kinh nghiệm sống đã có để giải quyết một tình huống
mới:
Có những hoạt động khuyến khích HS thể hiện mình, mạnh dạn phát biểu ý kiến, trao
đổi với bạn để kiến tạo kiến thức mới. Điển hình là: Hoạt động 1 ở Bài 1, các hoạt
động ở Bài 2 của Chủ đề A; Các hoạt động ở Bài 1 Chủ đề C1; các hoạt động của bài
học Chủ đề D và các Hoạt động 1 ở các bài học (không bắt đầu tên bài bằng từ “Thực
hành”) của Chủ đề F.
Có những hoạt động mà quá trình giải quyết vấn đề vừa sức sẽ đem lại cho HS sự trải
nghiệm tự khám phá, tự phát hiện ra quy luật, phát hiện ra một số thông tin mới, từ
đó dễ dàng chiếm lĩnh tri thức mới. Điển hình là: các Hoạt động 1 ở các bài học
(không bắt đầu tên bài bằng từ “Thực hành”) của Chủ đề F.
Với GV, các hoạt động được thiết kế nhằm:
Hỗ trợ cho GV về ý tưởng sư phạm về thông qua các hoạt động để kiến tạo kiến thức
mới cho HS, dẫn dắt HS tiếp thu kiến thức, kĩ năng mới một cách tự nhiên, dễ dàng
hơn.
Hỗ trợ GV trong việc bồi dưỡng ý thức tự học cho HS và khuyến khích HS khám phá
kiến thức mới cũng như tự đánh giá kết quả học tập của bản thân.
c. Tiếp cận đối tượng
Với cách tiếp cận đối tượng, SGK Tin học 5, bộ sách Cánh Diều đặt mục đích đảm
bảo tính phù hợp của sách với đối tượng HS đồng thời thực hiện được dạy học phân
hoá.
Tận dụng những trải nghiệm HS đã có trong cuộc sống để xây dựng kiến thức mới,
hình thành kĩ năng mới cho HS.
Đặc biệt coi trọng sự phù hợp về tâm lí lứa tuổi, các ví dụ, các tình huống, các minh
hoạ đến từ đời sống gần gũi với các em, gắn kết với các môn học khác. Khối lượng
nội dung được căn chỉnh hợp lí với thời lượng (dưới 3 trang/1 bài học/1 tiết học).
Coi trọng phương pháp dạy học trực quan, chuyển dần từ tư duy cụ thể sang tư duy
trừu tượng.
Chọn lọc văn phong và ngôn từ phù hợp với lứa tuổi HS, chú ý tính chuẩn mực, trong
sáng, đơn nghĩa. Các số liệu, thông tin, bảng biểu, hình ảnh,… trong SGK có trích
dẫn nguồn gốc rõ ràng.
Kênh hình, kênh chữ hài hoà phù hợp với HS lớp 5.
d. Tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống được thể hiện trong toàn bộ bộ SGK Tin học Cánh Diều:
Đảm bảo tính liên thông giữa các cấp học (nội môn, liên môn).
Đảm bảo tính kế thừa và nhất quán xuyên suốt từ lớp 3 đến lớp 12. Sách biên soạn
với các nguyên tắc sư phạm, xen kẽ nội dung lí thuyết với thực hành, trừu tượng với
trực quan. Các khái niệm cốt lõi đã được hình thành từ tiểu học để phát triển dần ở
các lớp tiếp theo.
Một cách cụ thể về sự kế thừa và phát triển mạch kiến thức từ lớp 4 đến lớp 5 như
sau:
Chủ đề A: Ở lớp 4, HS đã phân biệt được về phần cứng và phần mềm. lên lớp 5, HS
nêu được ví dụ máy tính (phần cứng) nhờ có phần mềm có thể giúp giải trí, học tập,
tìm kiếm, trao đổi thông tin, hợp tác với bạn bè và tạo ra sản phẩm số theo ý tưởng
bản thân.
Chủ đề B: Ở lớp 4, HS đã làm quen với thông tin trên trang Web. Lên lớp 5, HS tìm
được trên một website cụ thể (gồm một số trang Web) những thông tin phù hợp và có
ích để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, trong đó cần sử dụng những thông tin trên website
đó.
Chủ đề C: Ở lớp 4, HS đã bước đầu tìm kiếm được thông tin trên trang Web; tạo
được cây thư mục để lưu trữ thông tin trong máy tính. Lên lớp 5, HS giải thích được
sự cần thiết và tầm quan trọng của việc thu thập, tìm kiếm thông tin trong giải quyết
vấn đề; Tìm kiếm và chọn được thông tin phù hợp với vấn đề cần giải quyết; Tạo
được cây thư mục với cấu trúc hợp lí và sử dụng được công cụ tìm kiếm để tìm các
thư mục và các tệp trên máy tính.
Chủ đề D: Ở lớp 4, HS biết được về phần mềm miễn phí và phần mềm không miễn
phí, biết về bản quyền sử dụng phần mềm. Lên lớp 5, HS biết được về bản quyền nội
dung thông tin.
Chủ đề E: Ở lớp 4, HS đã tạo được văn bản tiếng Việt, thực hiện được các thao tác
với khối văn bản, chèn được ảnh vào văn bản. Lên lớp 5, HS được thêm cơ hội thực
hành để thao tác thành thạo với khối văn bản, chèn và thêm được khung cho ảnh, bố
trí được ảnh trong văn bản, chèn được ảnh lấy từ máy tính hoặc Internet.
Chủ đề F: Ở lớp 4, HS được làm quen với môi trường lập trình trực quan mà thực
chất là hiện thực hóa (bằng lập trình kéo thả) những vấn đề (về thuật toán) đã được
học ở lớp 3: “một công việc có thể chia thành các công việc nhỏ hơn; mỗi công việc
được giải quyết theo từng bước”. Ở đây mỗi công việc là một chương trình trò chơi
được tạo bởi lập trình trực quan; Chương trình đó diễn tả ý tưởng, câu chuyện theo
từng bước, trong đó có sự điều khiển nhân vật chuyển động trên màn hình. Lên lớp 5,
HS biết được những chương trình này sử dụng các cấu trúc tuần tự, rẽ nhánh và lặp.
Hơn nữa, HS biết sử dụng biến nhớ và biểu thức khi tạo chương trình. Những điều
này HS được thực hiện dưới dạng “chơi và khám phá trong môi trường lập trình trực
quan”.
3. Nội dung môn học
Sách gồm 6 chủ đề (A–F) với 31 bài học, trong đó có:
04 bài hình thành kiến thức mới: Bài 1, 2 (Chủ đề A); Bài 1 (Chủ đề C1) và Bài học
của Chủ đề D.
12 bài thực hành: Bài 2 (Chủ đề A); Bài 2 (Chủ đề C1) và Bài 1 (Chủ đề C2); Các
Bài 1, 2, 3, 5 Chủ đề E; Bài 2 (Chủ đề E – Lựa chọn 1) và Bài 2 (Chủ đề E – Lựa
chọn 2); Các Bài 2, 4, 14 của Chủ đề F.
17 bài có yếu tố thực hành: Bài 1, 2 (Chủ đề B); Bài 2 (Chủ đề C2); Bài 4 (Chủ đề
E); Bài 1 (Chủ đề E – Lựa chọn 1) và Bài 1 (Chủ đề E – Lựa chọn 2); Các Bài 1, 3, 5,
6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13 của Chủ đề F.
Mỗi bài học dự kiến phù hợp dạy trong 1 tiết học, giúp GV linh hoạt trong tổ chức
dạy học 1 tuần/1 tiết hoặc 1 tuần/2 tiết (tương ứng 2 bài học). Như vậy, ngoài 31 tiết
học, 2 tiết kiểm tra định kì còn có 2 tiết dự phòng, giúp GV có thể sử dụng để ôn tập
hoặc kiểm tra đánh giá hoặc dự phòng cho học bổ sung khi có sự cố nghỉ học, phải
học bù.
Cấu trúc bài học
Mỗi chủ đề gồm một số bài học. Các bài học trong một chủ đề được đánh số thứ tự
bắt đầu từ 1. Mỗi bài học lí thuyết, mỗi bài thực hành đều được thiết kế cho 1 tiết
học. Các bài học đều có cấu trúc chung như sau:
– Phần mở đầu nêu mục tiêu cần đạt của bài học.
– Phần khởi động đưa ra một yêu cầu hướng tới mục tiêu, nội dung bài học, trong
đó HS có thể cần triệu hồi kiến thức của bài học trước.
– Phần kiến thức mới gồm các hoạt động kiến tạo kiến thức.
– Luyện tập gồm câu hỏi và bài tập luyện tập.
– Vận dụng nêu nhiệm vụ vận dụng kiến thức.
– Tóm tắt bài học tóm tắt lại các nội dung chính của bài.
Nội dung bài học được tổ chức theo cấu trúc phù hợp với quá trình nhận thức của HS,
gồm các mục sau đây:
Mục tiêu được nêu ở ngay sau tên bài học: “Học xong bài này, em sẽ:”,
nhằm gợi động cơ hướng đích và căn cứ cho việc tự kiểm tra của HS. Những điều
nêu ở đây thể hiện YCCĐ của chương trình tương ứng với nội dung bài học giúp
cho GV, HS và cả phụ huynh xác định được đích đến của bài học.
►
Khởi động được nêu ở ngay sau phần mục tiêu. Nội dung của hoạt động
khởi động là một nhiệm vụ nhỏ nhằm hướng HS đến mục tiêu hoặc nội dung chính
của bài học. HS có thể cần nhớ lại kiến thức của bài học trước đó để giải quyết một
phần của nhiệm vụ đã đặt ra, phần còn lại của nhiệm vụ HS có thể không giải quyết
được đầy đủ hoặc không giải quyết được chính xác vì cần sử dụng kiến thức của
bài học mới. Từ đó, GV dẫn dắt HS đến phần hình thành kiến thức.
►
Các mục kiến thức nhằm kiến tạo và cung cấp kiến thức mới với các hoạt
động để HS tham gia vào quá trình kiến tạo kiến thức mới. Phần kiến thức mới
được chia thành một số mục, mỗi mục hình thành cho HS một đơn vị kiến thức nhỏ
của bài học. Để tổ chức cho HS kiến tạo kiến thức ở mỗi mục, hoạt động ở đầu mục
gợi ý cho GV sử dụng để tổ chức cho HS thực hiện. GV hoàn toàn có thể thay đổi
►
các hoạt động này bằng các hoạt động phù hợp hơn với đối tượng HS của mình.
Toàn bộ phần văn bản (không kể các hoạt động) cũng đã cung cấp đủ thông tin
hình thành kiến thức mới của bài học. Tuy nhiên, các hoạt động là các biện pháp
mang tính sư phạm nên được sử dụng để HS tiếp thu những kiến thức mới được dễ
dàng và sâu sắc hơn.
Luyện tập có mục đích giúp HS củng cố kiến thức mới, rèn luyện kĩ năng
vừa hình thành bằng cách áp dụng trực tiếp hoặc làm tương tự những gì HS vừa
tiếp thu. Thông qua luyện tập, HS tự làm cho kiến thức mới trở thành của mình, HS
bắt đầu có những kĩ năng mới.
►
Vận dụng giúp HS chuyển hoá kiến thức, kĩ năng mới thành của mình
thông qua giải quyết một vấn đề thực tiễn trong học tập, cuộc sống. Không chỉ
dừng ở mức chỉ có kiến thức, HS phải được phát triển năng lực bằng cách sử dụng
kiến thức, kĩ năng đó để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Bài tập vận dụng đòi hỏi
HS phải sử dụng hiểu biết vừa mới có cùng với những kiến thức đã tích luỹ được
để giải quyết một vấn đề thực tiễn hoặc gần với thực tiễn, vừa sức các em.
►
► Tóm
tắt bài học nhằm tóm tắt các nội dung chính của bài học, cần ghi nhớ.
Lưu ý: Do tính mở cao của SGK, kế hoạch bài dạy của GV hoàn toàn có thể thay đổi
thứ tự trước sau các mục hoạt động nêu trên. Ví dụ ngay sau phần giới thiệu kiến thức
là thực hiện mục Tóm tắt bài học. Mục Luyện tập có thể thực hiện kết hợp với Hình
thành kiến thức. Mục Vận dụng có thể thực hiện kết hợp với Luyện tập. Về cơ bản,
buổi học cố gắng thực hiện nội dung của tất cả các mục có trong bài học ngay ở lớp.
Trường hợp không hoàn thành được mục vận dụng trong thời gian trên lớp, GV cần
hướng dẫn HS tự học ở nhà và cần có giải pháp kiểm soát để đảm bảo HS hoàn thành
bài học, nhằm đạt được mục tiêu của bài học đó.
4. Phương pháp và các hình thức dạy học
- Sử dụng kĩ thuật dạy học trực quan và phương pháp dạy thực hành
Phương pháp dạy học thực hành rất quan trọng, đặc biệt trong phát triển năng lực sử
dụng công cụ và phần mềm kĩ thuật số cho HS. Nói chung, trừ những bài hoàn toàn
thực hành, nên lồng ghép lí thuyết và thực hành với những nhiệm vụ từ đơn giản đến
phức tạp dần, từ rèn luyện kĩ năng đơn lẻ đến phối hợp các thao tác và cuối cùng là
vận dụng. Một số bài lí thuyết liên quan đến sử dụng phần mềm được biên soạn để
ngoài phương án dạy trên lớp còn có phương án tổ chức dạy học hiệu quả trên phòng
máy.
- Triển khai phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Đây là phương pháp dạy học có nhiều ưu điểm trong phát triển tư duy máy tính cho
HS. Trong quá trình tạo lập kiến thức mới, các hoạt động học tập tự khám phá, trải
nghiệm cuốn hút HS chủ động triệu hồi kiến thức và kinh nghiệm đã có, phát hiện
quy luật, có nhu cầu tư duy chứ không thụ động tiếp thu những kiến thức đã được GV
sắp đặt.
- Khuyến khích HS tự khám phá
Dạy HS sử dụng phần mềm công cụ, SGK chỉ hướng dẫn một số chức năng cơ bản
nhất, còn lại hướng dẫn và khuyến khích HS tự khám phá. Điều này thể hiện quan
điểm bồi dưỡng cho các em khả năng tự học các phần mềm thông dụng, đem đến cho
các em sự tự tin dám khám phá thêm các chức năng khác của phần mềm khi xuất hiện
các nhu cầu mới.
- Tăng cường thu nhận phản hồi từ HS và hướng dẫn HS tự đánh giá
Cuối mỗi bài, nếu có điều kiện và bố trí được thời gian, GV Tin học có thể tận dụng
các công cụ CNTT để hỗ trợ đặt câu hỏi trắc nghiệm nhằm giúp hệ thống hoặc củng
bố kiến thức cho HS, qua đó biết HS đã thu nhận kiến thức gì, làm được gì qua bài
học sẽ giúp cả GV và HS tự điều chỉnh việc dạy và học. Các câu hỏi trắc nghiệm chú
ý không xa rời các YCCĐ của chương trình, tránh yêu cầu HS không đúng mức.
Đồng thời đối với HS, tự đánh giá qua việc hoàn thành được các câu hỏi đó cũng giúp
các em có thêm tự tin và hứng thú trong học tập.
- Thực hiện dạy học phân hoá để phát triển được năng lực của mọi HS
Thông tin được trình bày ở nhiều hình thức khác nhau trong các bài học. Bài tập ở
mỗi bài được chia thành mức luyện tập và vận dụng, trong đó có bài đơn giản, có bài
dễ và bài khó hơn. Khuyến khích HS khá, giỏi có thể tìm hiểu, tự khám phá thêm.
5. Đánh giá học sinh
Đánh giá kết quả giáo dục của HS tiểu học thực hiện theo Quy định đánh giá HS tiểu
học ban hành tại Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT ngày 04/9/2020 của Bộ trưởng Bộ
GDĐT.
5.1. Quy định về đánh giá học sinh tiểu học
Khái niệm cơ bản
Đánh giá HS tiểu học là quá trình thu thập, xử lý thông tin thông qua các hoạt động
quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của HS; tư
vấn, hướng dẫn, động viên HS; diễn giải thông tin định tính hoặc định lượng về kết
quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số phẩm chất, năng lực của
HS tiểu học.
Đánh giá thường xuyên là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt
động dạy học theo yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của
từng môn học, hoạt động giáo dục và một số biểu hiện phẩm chất, năng lực của HS.
Đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS, để kịp thời điều
chỉnh quá trình dạy học, hỗ trợ, thúc đẩy sự tiến bộ của HS theo mục tiêu giáo dục
tiểu học.
Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục HS sau một giai đoạn học tập, rèn
luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, rèn luyện của HS theo
yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng môn học,
hoạt động giáo dục được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu
học và sự hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực HS.
Tổng hợp đánh giá kết quả giáo dục là việc tổng hợp và ghi kết quả đánh giá giáo dục
của HS vào Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp và Học bạ vào các thời
điểm theo quy định.
Mục đích đánh giá
Mục đích đánh giá là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, xác định được thành tích
học tập, rèn luyện theo mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục
phổ thông cấp tiểu học và sự tiến bộ của HS để hướng dẫn hoạt động học tập, điều
chỉnh các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, cụ thể như sau:
Giúp GV điều chỉnh, đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục trong quá
trình dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS nhằm động
viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của HS để hướng
dẫn, giúp đỡ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của
HS; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học.
Giúp HS có khả năng tự nhận xét, tham gia nhận xét; tự học, tự điều chỉnh cách học;
giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ.
Giúp cha mẹ HS hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha mẹ HS) tham gia
đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển
phẩm chất, năng lực của HS; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động
giáo dục HS.
Giúp cán bộ quản lý giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi
mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục.
Giúp các tổ chức xã hội nắm thông tin chính xác, khách quan, phát huy nguồn lực xã
hội tham gia đầu tư phát triển giáo dục.
Yêu cầu đánh giá
Đánh giá HS thông qua đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể
về các thành phần năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục và những biểu hiện
phẩm chất, năng lực của HS theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông cấp
tiểu học.
Đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, đánh giá định kì bằng điểm số kết hợp với
nhận xét; kết hợp đánh giá của GV, HS, cha mẹ HS, trong đó đánh giá của GV là
quan trọng nhất.
Đánh giá sự tiến bộ và vì sự tiến bộ của HS; coi trọng việc động viên, khuyến khích
sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huy nhiều nhất khả năng,
năng lực; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan; không so sánh HS này với HS
khác, không tạo áp lực cho HS, GV và cha mẹ HS.
5.2. Tổ chức đánh giá
Nội dung đánh giá
Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của HS đáp ứng yêu cầu cần
đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng môn học, hoạt động giáo
dục theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.
Đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS thông qua những
phẩm chất chủ yếu và những năng lực cốt lõi như sau:
Những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
Những năng lực cốt lõi:
+ Những năng lực chung: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và
sáng tạo;
+ Những năng lực đặc thù: ngôn ngữ, tính toán, khoa học, công nghệ, tin học, thẩm
mĩ, thể chất.
Phương pháp đánh giá
Một số phương pháp đánh giá thường được sử dụng trong quá trình đánh giá HS
gồm:
- Phương pháp quan sát: GV theo dõi, lắng nghe HS trong quá trình giảng dạy trên
lớp, sử dụng phiếu quan sát, bảng kiểm tra, nhật ký ghi chép lại các biểu hiện của HS
để sử dụng làm minh chứng đánh giá quá trình học tập, rèn luyện của HS.
Phương pháp đánh giá qua hồ sơ học tập, các sản phẩm, hoạt động của HS: GV đưa
ra các nhận xét, đánh giá về các sản phẩm, kết quả hoạt động của HS, từ đó đánh giá
HS theo từng nội dung đánh giá có liên quan.
- Phương pháp vấn đáp: GV trao đổi với HS thông qua việc hỏi-đáp để thu thập thông
tin nhằm đưa ra những nhận xét, biện pháp giúp đỡ kịp thời.
- Phương pháp kiểm tra viết: GV sử dụng các bài kiểm tra gồm các câu hỏi, bài tập
được thiết kế theo mức độ, yêu cầu cần đạt của chương trình, dưới hình thức trắc
nghiệm, tự luận hoặc kết hợp trắc nghiệm và tự luận để đánh giá mức đạt được về các
nội dung giáo dục cần đánh giá.
Đánh giá thường xuyên
a. Đánh giá thường xuyên về nội dung học tập các môn học, hoạt động giáo dục
GV sử dụng linh hoạt, phù hợp các phương pháp đánh giá, nhưng chủ yếu thông qua
lời nói chỉ ra cho HS biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa; viết nhận xét
vào vở hoặc sản phẩm học tập của HS khi cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp
thời.
- HS tự nhận xét và tham gia nhận xét sản phẩm học tập của bạn, nhóm bạn trong quá
trình thực hiện các nhiệm vụ học tập để học và làm tốt hơn.
- Cha mẹ HS trao đổi với GV về các nhận xét, đánh giá HS bằng các hình thức phù
hợp và phối hợp với GV động viên, giúp đỡ HS học tập, rèn luyện.
b. Đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực
GV sử dụng linh hoạt, phù hợp các phương pháp đánh giá; căn cứ vào những biểu
hiện về nhận thức, hành vi, thái độ của HS; đối chiếu với yêu cầu cần đạt của từng
phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi theo Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu
học để nhận xét và có biện pháp giúp đỡ kịp thời.
- HS được tự nhận xét và được tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn về những biểu hiện
của từng phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi để hoàn thiện bản thân.
- Cha mẹ HS trao đổi, phối hợp với GV động viên, giúp đỡ HS rèn luyện và phát triển
từng phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi.
Đánh giá định kì
- Đánh giá định kì về nội dung học tập các môn học, hoạt động giáo dục
Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, GV dạy môn học căn
cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và yêu cầu cần đạt, biểu hiện cụ thể về các
thành phần năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục để đánh giá HS đối với
từng môn học, hoạt động giáo dục theo các mức sau:
Hoàn thành tốt: thực hiện tốt các yêu cầu học tập và thường xuyên có biểu hiện cụ
thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
Hoàn thành: thực hiện được các yêu cầu học tập và có biểu hiện cụ thể về các thành
phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
Chưa hoàn thành: chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập hoặc chưa có biểu
hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục.
QUY TRÌNH DẠY HỌC BÀI MỚI
TÊN BÀI HỌC
I. YÊU CẦU CẦN ĐẠT
1. Năng lực đặc thù
2. Năng lực chung
3. Phẩm chất.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1. Khởi động
- GV đưa ra một nội dung, tình huống, câu hỏi, trò chơi có liên quan đến nội dung bài
học để học sinh suy lận trả lời (có thể là phần khởi động trong SGK).
2. Hình thành kiến thức mới
- GV tổ chức cho HS quan sát hình trong SGK (hoặc phóng to sách mềm) sau đó đưa
ra câu hỏi, nhiệm vụ để định hướng, kích thích HS nghiên cứu, suy nghĩ, trao đổi với
nhau. Qua đó lĩnh hội được kiến thức, hình thành được kĩ năng của bài học.
- HS có thể thảo luận nhóm (2,4,6) hoặc làm việc cá nhân.
- HS đại diện trình bày, lớp nhận xét, bổ sung.
- GV đánh giá, nhận xét
3. Luyện tập, thực hành
Tuỳ vào từng nội dung bài học lý thuyết hay thực hành GV tổ chức cho hs thảo luận
nhóm trả lời câu hỏi hay thực hành theo nhóm
4.Vận dụng, trải nghiệm
- Gv cho hs trả lời các câu hỏi trong SGK để khắc sâu thêm kiến thức.
5. Củng cố, dặn dò:
- Gv nhắc lại nội dung chính của bài học.
- Y/c học sinh đọc phần ghi nhớ trong SGK để khắc sâu nội dung chính của bài học.
- GV nhận xét tiết học và dặn dò HS.
IV. ĐIỀU CHỈNH SAU BÀI DẠY (nếu có)
QUY TRÌNH DẠY HỌC BÀI THỰC HÀNH
TÊN BÀI HỌC
I. YÊU CẦU CẦN ĐẠT
1. Năng lực đặc thù
2. Năng lực chung
3. Phẩm chất.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1. Khởi động
- GV đưa ra một nội dung, tình huống, câu hỏi, trò chơi có liên quan đến nội dung bài
học để học sinh suy lận trả lời (có thể là phần khởi động trong SGK).
2. Luyện tập, thực hành
- GV tổ chức cho hs thảo luận nhóm trả lời câu hỏi hay thực hành theo nhóm
- HS có thể thảo luận nhóm (2,4,6) hoặc làm việc cá nhân.
- HS đại diện trình bày, lớp nhận xét, bổ sung.
- GV đánh giá, nhận xét
3.Vận dụng, trải nghiệm
4. Củng cố, dặn dò:
- Gv nhắc lại nội dung chính của bài học.
- Y/c học sinh đọc phần ghi nhớ trong SGK để khắc sâu nội dung chính của bài học.
- GV nhận xét tiết học và dặn dò HS.
IV. ĐIỀU CHỈNH SAU BÀI DẠY (nếu có)
6. Đề xuất, khuyến nghị:
* Đối với Tổ chuyên môn và GV:
- Mỗi GV tích cực tự học bằng nhiều hình thức, tự nghiên cứu nâng cao nghiệp vụ
chuyên môn của mình.
- Các tổ chuyên môn tăng cường tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo NCBH,
chuyên đề nhằm bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV và tháo gỡ những khó
khăn mắc phải khi dạy học.
* Đối với nhà trường:
- Đầu tư CSVC, trang thiết bị dạy học tạo điều kiện để GV có nhiều nguồn tài
liệu học tập.
Trên đây là nội dung lí thuyết chuyên đề “Dạy học môn Tin học - lớp 5 theo
chương trình giáo dục phổ thông 2018 (sách cánh diều)” rất mong nhận được sự
góp ý của BGH, các tổ chuyên môn để chuyên đề được hoàn thiện hơn.





